LỒNG GHÉP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ỨNG PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Dự án TSU

Bài viết hiện tại | Các nhóm tin | Tìm kiếm | Đồng bộ RSS

26 Tháng Ba 2019
Quản Lý Dữ Liệu Không Gian Bằng Gis Trong Chương Trình Hợp Tác Việt - Bỉ Về Biến Đổi Khí Hậu
By doanphuongduy @ 3:26 CH :: 101 Views :: 0 Comments
 

Chương trình Quản lý tổng hợp nguồn nước và Phát triển đô thị trong mối liên hệ với Biến đổi khí hậu tại các tỉnh Hà Tĩnh, Ninh Thuận và Bình Thuận được thực hiện từ năm 2013 đến năm 2019 theo khuôn khổ Chương trình hợp tác định hướng giữa Chính phủ Việt Nam và Vương Quốc Bỉ. Tại thời điểm hiện nay, Chương trình đang trong giai đoạn cuối và sẽ kết thúc vào tháng 6/2019 theo Hiệp định giữa 2 nước.

Chương trình có 4 Dự án thành phần gồm 3 Dự án triển khai tại ba tỉnh nói trên và Dự án Ban Hỗ trợ Kỹ thuật (TSU) tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Chương trình đã đạt nhiều kết quả, góp phần vào mục tiêu chung là sự phát triển  kinh tế xã hội bền vững của các tỉnh tham gia Chương trình thông qua việc hỗ trợ xây dựng năng lực thể chế về quản lý tổng hợp tài nguyên nước và phát triển đô thị trong mối liên hệ với biến đổi khí hậu. Một trong những kết quả quan trọng đã đạt được là việc thành lập cơ sở dữ liệu không gian bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS).

TSU xin giới thiệu với bạn đọc bài viết Giới thiệu tổng quan về quản lý dữ liệu không gian bằng GIS, quá trình triển khai xây dựng, và những tác động ban đầu tại ba tỉnh, của ông Đặng Vũ Khắc, chuyên gia Quản lý dữ liệu GIS  (TSU).


Cơ sở dữ liệu không gian hỗ trợ cho việc ra quyết định trong quản lý

Thông tin không gian thường liên quan đến phạm vi địa lý. Việc xử lý dữ liệu không gian bao gồm quá trình thu thập, lưu trữ, quản lý, phân tích dữ liệu và xuất ra thông tin. Cơ sở dữ liệu là tập hợp các tệp tin dữ liệu được dùng cho việc tổ chức thông tin phức tạp. Hệ thống cơ sở dữ liệu không gian địa lý có lợi thế hơn các hệ thống cơ sở dữ liệu thông thường vì nó được tối ưu hóa để lưu trữ và truy vấn dữ liệu có liên quan đến vị trí của đối tượng, bao gồm các lớp dữ liệu vector với thực thể hình học dạng điểm, đường và vùng. Ngoài ra còn lưu trữ lớp dữ liệu raster với các ô pixel. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu không gian và phân tích các dữ liệu không gian này bằng GIS đã làm cho GIS trở thành một công cụ rất hiệu quả để hỗ trợ và tạo thuận lợi cho việc ra quyết định trong quản lý (Burrough 1987). Trong những năm vừa qua, GIS đang được sử dụng rộng rãi như một công cụ phân tích không gian với các cách thức hiệu quả và hiệu lực để tạo ra, quản lý, phân tích và hiển thị dữ liệu địa lý. Giá trị thực sự của GIS chỉ có thể được ghi nhận nếu có sẵn các công cụ thích hợp để thu thập dữ liệu không gian và tích hợp chúng với dữ liệu thuộc tính. Dữ liệu được sử dụng trong GIS thường đến từ nhiều nguồn và được lưu trữ theo nhiều cách khác nhau: số hóa thủ công bản đồ giấy, dữ liệu số hiện có, hình ảnh vệ tinh viễn thám, đo đạc GPS, vv ... Đó là những nguồn dữ liệu đầu vào đầy hứa hẹn để xây dựng cơ sở dữ liệu không gian số bằng GIS. Tuy nhiên trước khi tạo bất kỳ dữ liệu không gian nào, chúng ta cần nắm rõ các loại dữ liệu hiện có, quy trình phân tích dữ liệu và khả năng sử dụng của chúng trong GIS để có được các kết quả thực tế.

Bên cạnh việc lưu trữ và quản lý dữ liệu không gian, GIS cung cấp các công cụ và phương pháp để tích hợp nhiều lớp dữ liệu khác nhau bên trong một cơ sở dữ liệu không gian để so sánh và phân tích chúng với nhau. Việc phân tích không gian là chức năng quan trọng của GIS và có thể được sử dụng cho nhiều ứng dụng như xác định tính thích hợp của một địa điểm, giám sát tài nguyên nước, quản lý lũ lụt, quy hoạch đô thị, vv. Mô hình hóa không gian sử dụng các đặc tính và phương pháp không gian trong xử lý dữ liệu. Việc sử dụng các công cụ mô hình hóa không gian của GIS trong một số hoạt động đã giúp định lượng các quá trình tự nhiên và xác định các mô hình thu được từ các sản phẩm phân tích. Việc phân tích và mô hình hóa dữ liệu không gian trong GIS có thể thực hiện các tính toán tẻ nhạt thay vì giải chúng bằng phương pháp thủ công, đầu ra của phân tích và mô hình cung cấp dữ liệu số hữu ích cho nhiều loại ứng dụng khác. Chúng có thể được sử dụng để phát hiện ra các kiểu và xu thế trong dữ liệu mà chúng có thể không rõ ràng khi trình bày theo cách khác và thông tin đó giúp người lãnh đạo ra quyết định phù hợp. Các chức năng phân tích trên cơ sở cấu trúc vector, raster và các phép toán số học, cũng như toán tử logic và toán tử điều kiện có thể được sử dụng dựa trên các suy diễn đã được khôi phục. Mô hình dữ liệu raster trở thành nguồn dữ liệu không gian chính cho mô hình phân tích bằng GIS. Mô hình dữ liệu raster rất phù hợp với phân tích định lượng cho nhiều lớp dữ liệu. Để tạo thuận lợi cho các kỹ thuật mô hình raster này, hầu hết các phần mềm GIS sử dụng mô-đun riêng để xử lý các ô pixel.

 GIS trong Chương trình Quản lý tổng hợp nguồn nước và Phát triển đô thị trong mối liên hệ với Biến đổi khí hậu tại các tỉnh Hà Tĩnh, Ninh Thuận, Bình Thuận và những tác động ban đầu

Với nhiều ưu thế như trên của GIS, ngay từ ban đầu Chương trình đã chú trọng phát huy thế mạnh của GIS để tích hợp các lớp dữ liệu địa lý hay chạy các mô hình trong các hợp phần nghiên cứu triển khai tại ba tỉnh. Do mỗi tỉnh đều phải thực hiện các nghiên cứu theo đặc thù nhu cầu của riêng địa phương mình, các nghiên cứu này lại được thực hiện bởi nhiều nhà thầu trong nước với một khối lượng dữ liệu đồ sộ cần được xử lý dưới sự quản lý của Ban Điều phối (PCU) và hỗ trợ về mặt kỹ thuật của Ban Hỗ trợ kỹ thuật (TSU). Tuy nhiên trong nghiên cứu, các nhà thầu sử dụng nhiều loại dữ liệu đầu vào có nguồn gốc khác nhau, xử lý bằng nhiều phần mềm và tạo ra dữ liệu mới nhiều khi rất đa dạng về định dạng, về hệ toạ độ, về cấu trúc, vv.. nên việc quản lý dữ liệu trở nên phức tạp.

Trên quan điểm dữ liệu là tài sản do có thể sử dụng lại giữa các nghiên cứu trong khuôn khổ Chương trình và ngay cả sau khi Chương trình kết thúc, nên TSU đã chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng một cơ sở dữ liệu không gian địa lý cho từng tỉnh mà xuất phát ban đầu là thí điểm với nghiên cứu Mô hình Thuỷ lực/Thuỷ văn và nghiên cứu Kịch bản biến đổi khí hậu. Để thực hiện công việc này, sau khi kiểm tra sự đầy đủ về số lượng của các lớp dữ liệu GIS được chuyển giao từ nhà thầu của 2 nghiên cứu này so với yêu cầu đặt ra trong TOR, chuyên gia của TSU đã thiết kế khung cấu trúc cơ sở dữ liệu, chuẩn hoá về định dạng, về hệ toạ độ, về dữ liệu thuộc tính, vv. nhằm đảm bảo sự thống nhất theo các chuẩn cơ sở dữ liệu không gian của phần mềm ArcGIS.

Sau đó các cơ sở dữ liệu không gian cho hai nghiên cứu này được bàn giao lại cho từng PCU như là cơ sở dữ liệu mẫu, cùng các tài liệu hướng dẫn cách thiết kế cơ sở dữ liệu không gian, cách thức chuẩn hoá dữ liệu nhằm đảm bảo cán bộ phụ trách việc quản lý dữ liệu của PCU có khả năng tự tiếp nhận dữ liệu được chuyển giao từ nhà thầu đối với các nghiên cứu khác (như nghiên cứu Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương, nghiên cứu Xâm nhập mặn, nghiên cứu Xói lở bờ biển, nghiên cứu Quy hoạch đô thị, nghiên cứu Rừng ngập mặn, vv,). Hơn nữa cán bộ của các PCU cũng được TSU hỗ trợ trực tiếp qua công việc cụ thể để tích hợp các lớp dữ liệu GIS mới tiếp nhận vào cơ sở dữ liệu không gian địa lý thành một bộ dữ liệu thống nhất cho từng tỉnh. Ngoài ra mỗi tỉnh cũng đã được trang bị các thiết bị cần thiết gồm máy tính, máy in, máy quét, phần mềm ArcGIS, phần mềm ENVI cùng hai khoá đào tạo cơ bản và chuyên sâu về ứng dụng GIS và Viễn thám trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước và phát triển đô thị.

Với cách tiếp cận như vậy, vào giai đoạn cuối của Chương trình, từng PCU đã xây dựng được cho riêng mình một cơ sở dữ liệu không gian để lưu trữ các lớp dữ liệu GIS cho các nghiên cứu đã triển khai trên địa bàn từng tỉnh trong khuôn khổ của Chương trình. Kèm theo đó là năng lực của các cán bộ ba tỉnh trong quản lý, khai thác một cách hiệu quả cơ sở dữ liệu không gian này đã được nâng cao hơn trước nhằm tiếp tục phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước và phát triển đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại địa phương. /.

Comments
Hiện tại không có lời bình nào
viết lời bình